Tên một phần mềm hay ứng dụng thường phải tra ở ít nhất ba chỗ: nhóm 9 cho phần mềm tải về, nhóm 42 cho phần mềm dùng trực tuyến, và nhóm của chính dịch vụ mà ứng dụng mang lại cho người dùng, như giao hàng, giáo dục, tài chính hay y tế. Rất nhiều nhóm sáng lập chỉ tra nhóm 9 hoặc chỉ tra nhóm 42, và bỏ lỡ nhãn trùng nằm ở nhóm lĩnh vực.
Bài này tập trung vào kỹ thuật lập bộ nhóm để tra cho tên sản phẩm số, cách xử lý những ứng dụng làm nhiều việc cùng lúc, và những điểm riêng khi tra tên tiếng Anh, tên ghép chữ hay gặp trong giới công nghệ. Việc chọn nhóm nào để nộp đơn, nộp bao nhiêu nhóm là quyết định ở giai đoạn sau.
Vì sao phần mềm khó tra hơn hàng hoá thông thường
Một chai nước mắm thì nằm gọn ở một nhóm. Một ứng dụng thì không. Bản thân phần mềm có thể là hàng hoá khi người dùng tải về và cài lên máy, xếp nhóm 9. Cùng phần mềm đó, khi chạy trên máy chủ và người dùng chỉ đăng nhập qua trình duyệt, lại thường được xem là dịch vụ cung cấp phần mềm, xếp nhóm 42. Nhiều sản phẩm ngày nay có cả hai dạng.
Thêm vào đó, người dùng ít khi nghĩ đến ứng dụng như một phần mềm. Họ nghĩ đến việc nó làm cho họ: đặt xe, học tiếng Anh, chuyển tiền, đặt lịch khám. Trong mắt người tiêu dùng, một ứng dụng học tiếng Anh tên X và một trung tâm tiếng Anh tên X dễ bị nghĩ là cùng một nhà. Vì vậy nhãn trùng ở nhóm 41 của dịch vụ giáo dục có thể đáng lo hơn một nhãn trùng ở nhóm 9 cho phần mềm điều khiển máy công nghiệp.
Cuối cùng, tên trong giới công nghệ thường ngắn, ghép chữ, mượn tiếng Anh, viết liền. Những kiểu tên này dễ trùng nhau và khó tra hơn, vì cùng một âm có thể viết theo nhiều cách. Phần sau của bài sẽ quay lại chuyện đó.
Một điểm nữa là tốc độ. Sản phẩm số có thể đổi tính năng chỉ sau một bản cập nhật, trong khi một xưởng sản xuất cần cả năm để thêm dây chuyền mới. Cái tên vì vậy phải chịu được những bước rẽ nhanh của sản phẩm, và phạm vi tra cũng nên rộng hơn một chút so với những gì ứng dụng đang làm vào ngày đặt tên.
Bộ nhóm cơ bản cho một tên sản phẩm số
Với hầu hết ứng dụng, phần mềm hướng tới người dùng phổ thông, bộ nhóm khởi đầu nên gồm các mục dưới đây. Sau đó bạn thêm hoặc bớt tuỳ sản phẩm.
- Nhóm 9: phần mềm, ứng dụng tải xuống được, phần mềm ghi trên vật mang. Đây là nhóm mà gần như ứng dụng nào cũng chạm tới.
- Nhóm 42: cung cấp phần mềm trực tuyến không tải xuống, thiết kế và phát triển phần mềm, lưu trữ dữ liệu. Sản phẩm dạng nền tảng web hay dịch vụ đăng ký thuê bao cần tra kỹ ở đây.
- Nhóm của dịch vụ cốt lõi mà ứng dụng mang lại: nhóm 39 cho vận tải, giao hàng; nhóm 41 cho giáo dục, giải trí; nhóm 36 cho tài chính; nhóm 44 cho y tế, chăm sóc sức khoẻ; nhóm 43 cho đặt chỗ ăn uống, lưu trú; nhóm 45 cho một số dịch vụ cá nhân, pháp lý.
- Nhóm 35: nếu ứng dụng là chợ trực tuyến kết nối người mua và người bán, hoặc cung cấp dịch vụ quảng cáo, quản lý kinh doanh. Nhiều sàn và ứng dụng thương mại chạm nhóm này.
- Nhóm 38: nếu ứng dụng chủ yếu là nhắn tin, gọi điện, truyền dữ liệu, diễn đàn trực tuyến. Đây là nhóm của dịch vụ viễn thông và truyền thông trực tuyến.
Năm mục trên chưa phải danh sách nộp đơn. Chúng là phạm vi tra. Một ứng dụng nhỏ có thể chỉ đăng ký một hai nhóm, nhưng khi tra, bạn vẫn cần nhìn đủ các phía để biết tên của mình đang đứng giữa những ai.
Ví dụ giả định: ba ứng dụng, ba bộ nhóm tra
Ba ví dụ giả định dưới đây cho thấy bộ nhóm thay đổi theo việc ứng dụng thực sự làm. Chú ý cột nhóm lĩnh vực, vì đây là cột hay bị bỏ sót nhất.
| Ứng dụng | Nhóm phần mềm | Nhóm lĩnh vực | Nhóm khác nên nhìn qua |
|---|---|---|---|
| Ứng dụng đặt món từ quán ăn quanh nhà | 9, 42 | 39 (giao hàng), 43 (dịch vụ ăn uống) | 35 (sàn kết nối người bán) |
| Nền tảng học từ vựng có lớp trực tuyến | 9, 42 | 41 (giáo dục) | 16 (sách đi kèm nếu có) |
| Phần mềm quản lý bán hàng cho cửa hàng nhỏ | 9, 42 | 35 (quản lý kinh doanh) | 36 (nếu có tính năng thanh toán) |
Với ứng dụng thứ ba, nhóm lĩnh vực trùng với nhóm 35 vì chính việc quản lý kinh doanh là dịch vụ ở nhóm này. Không có công thức chung, chỉ có câu hỏi lặp lại: người dùng nhận được gì từ ứng dụng.
Ứng dụng làm nhiều việc: tra theo tính năng chính
Các siêu ứng dụng gom nhiều dịch vụ vào một chỗ, và đội phát triển thường muốn tra hết mọi nhóm có liên quan. Với ngân sách thời gian có hạn, hãy chia tính năng thành ba tầng. Tầng một là tính năng khiến người ta tải ứng dụng: nếu bỏ nó đi, sản phẩm không còn lý do tồn tại. Tầng hai là tính năng thường xuyên được dùng nhưng không phải lý do chính. Tầng ba là tính năng phụ, thử nghiệm.
Tra kỹ, ghi cả kết quả gần giống ở nhóm của tầng một. Ở tầng hai, ghi kết quả trùng hoặc rất gần. Ở tầng ba, chỉ cần một lượt nhìn qua. Cách chia này giúp bạn không bỏ sót chỗ quan trọng mà vẫn kết thúc được việc tra trong thời gian hợp lý.
Khi sản phẩm thay đổi trọng tâm, ví dụ từ ứng dụng ghi chú chuyển thành nền tảng học trực tuyến, nhóm tầng một cũng đổi theo. Đó là lúc cần tra lại tên, vì những gì an toàn ở lĩnh vực cũ chưa chắc an toàn ở lĩnh vực mới.
Tra tên công nghệ: tiếng Anh, viết liền, đổi chữ
Tách và ghép từ. Một tên viết liền như ghép hai từ tiếng Anh cần tra cả dạng liền, dạng tách hai từ, và từng từ riêng nếu từng từ có tính phân biệt. Cơ sở dữ liệu có thể coi dạng liền và dạng tách là hai chuỗi khác nhau.
Đổi chữ cho giống âm. Giới công nghệ hay thay chữ c bằng k, ph bằng f, bỏ nguyên âm cuối, thêm chữ y. Người đọc vẫn đọc ra cùng một âm. Khi tra, hãy liệt kê các biến thể chính tả có thể có của tên, tra từng biến thể.
Tiền tố, hậu tố công nghệ. Các mẩu như "app", "pay", "go", "hub", "ai", "tech" gắn vào tên rất phổ biến. Thường chúng có tính phân biệt thấp. Khi tra, hãy bỏ chúng ra và tra phần lõi, vì phần lõi mới là thứ quyết định nhầm lẫn.
Phiên âm sang tiếng Việt. Nếu người dùng Việt có thể gọi tên bằng cách đọc phiên âm, tra cả dạng phiên âm. Một số nhãn đăng ký bằng chữ Việt có thể đọc giống tên tiếng Anh của bạn.
Tên trùng với từ mô tả. Một tên nói thẳng chức năng, như ghép "học" với "nhanh", có thể dễ tra ra ít kết quả vì cơ quan ít cấp bằng cho từ mô tả, nhưng chính vì thế bản thân tên của bạn cũng khó được bảo hộ. Tra không trùng chưa có nghĩa là tên tốt.
Những lỗi hay gặp khi tra tên sản phẩm số
Các lỗi dưới đây xuất hiện lặp đi lặp lại ở những nhóm sáng lập tự tra. Phần lớn không do thiếu công cụ, mà do vội.
- Chỉ tra đúng chính tả của tên, không tra biến thể. Tên công nghệ càng ngắn, biến thể càng nhiều và càng dễ trùng.
- Chỉ tra nhóm 9 vì nghĩ phần mềm nào cũng ở đó, bỏ qua nhóm 42 trong khi sản phẩm chạy hoàn toàn trên nền web.
- Quên nhóm lĩnh vực vì đội ngũ tự coi mình là công ty công nghệ, trong khi khách hàng coi họ là công ty giao hàng, công ty giáo dục hay công ty tài chính.
- Tra một lần lúc đặt tên dự án rồi không tra lại khi ra mắt chính thức, dù giữa hai thời điểm có thể cách nhau cả năm và nhiều đơn mới đã được nộp.
- Coi danh sách kết quả ít là tín hiệu tốt, không đặt câu hỏi vì sao ít. Kết quả ít có khi vì tên quá mô tả, có khi vì bộ lọc sai, có khi vì gõ thiếu dấu.
- Không lưu lại những gì đã tra, đến khi nhà đầu tư hoặc đối tác hỏi thì phải làm lại từ đầu.
Nếu bạn chỉ có thời gian sửa một lỗi, hãy sửa lỗi thứ ba. Nhóm lĩnh vực là nơi người dùng nhìn thấy sự nhầm lẫn rõ nhất, cũng là nơi tranh chấp dễ phát sinh nhất.
Kết hợp với tra ngoài cơ sở dữ liệu nhãn hiệu
Với sản phẩm số, cơ sở dữ liệu nhãn hiệu chỉ là một phần bức tranh. Nhiều ứng dụng hoạt động nhiều năm mà chưa nộp đơn, nhưng đã có lượng người dùng đáng kể. Trước khi chốt tên, hãy tìm trên các kho ứng dụng, trên công cụ tìm kiếm và trên mạng xã hội. Phần này thuộc một bài riêng về tra chéo trước khi đặt tên, ở đây chỉ nhắc để bạn không coi kết quả tra nhãn hiệu là đủ.
Nếu định ra nước ngoài, tên ứng dụng phải được tra cả ở cơ sở dữ liệu quốc tế, vì kho ứng dụng là thị trường toàn cầu ngay từ ngày đầu. Một tên an toàn ở Việt Nam nhưng trùng một nhãn đã đăng ký ở thị trường bạn định mở rộng có thể khiến ứng dụng bị gỡ khỏi kho tại đó.
Với startup đang gọi vốn, nhà đầu tư thường hỏi tên sản phẩm đã được kiểm tra chưa. Một phiếu tra ghi rõ bộ nhóm, các biến thể chính tả đã tra, kết quả và đánh giá là tài liệu gọn để trả lời câu hỏi ấy. Khi kết quả có điểm khó đánh giá, nên có ý kiến của người làm nghề đi kèm.
Câu hỏi thường gặp
Ứng dụng di động đăng ký nhãn hiệu thì tra nhóm 9 hay 42?
Nên tra cả hai. Nhóm 9 dành cho phần mềm tải xuống được, nhóm 42 cho phần mềm dùng trực tuyến và dịch vụ phát triển phần mềm. Nhiều ứng dụng có cả hai dạng, và nhãn trùng ở nhóm nào cũng đáng chú ý.
Có cần tra nhóm của dịch vụ mà ứng dụng cung cấp không?
Có, và đây là nhóm hay bị quên nhất. Người dùng nhìn ứng dụng qua việc nó làm, như giao hàng hay dạy học, nên nhãn trùng ở nhóm dịch vụ đó dễ gây nhầm lẫn hơn nhãn trùng ở một góc xa của nhóm 9.
Tên ứng dụng viết liền và viết tách có phải tra riêng không?
Nên tra riêng. Cơ sở dữ liệu có thể coi dạng viết liền và viết tách là hai chuỗi khác nhau, trong khi người dùng đọc lên vẫn như một. Tra thêm các biến thể chính tả cùng âm để không sót.
Tra không thấy trùng ở nhóm 9 và 42 thì đặt tên được chưa?
Chưa đủ. Bạn còn cần tra nhóm lĩnh vực, tra trên kho ứng dụng và mạng xã hội, tra ở thị trường định mở rộng. Ngoài ra luôn có độ trễ với các đơn mới nộp chưa hiện trên cơ sở dữ liệu.
Siêu ứng dụng nhiều tính năng có phải tra tất cả các nhóm không?
Không nhất thiết đọc kỹ tất cả. Hãy chia tính năng theo tầng quan trọng, tra kỹ nhóm của tính năng chính, tra trùng hoặc rất gần ở tính năng phụ. Khi trọng tâm sản phẩm đổi, tra lại.
Tên có chữ "app" hay "pay" ở cuối thì tra thế nào?
Tra cả tên đầy đủ và phần lõi khi bỏ các mẩu đó đi. Những tiền tố, hậu tố công nghệ phổ biến thường có tính phân biệt thấp, phần lõi mới quyết định hai tên có dễ nhầm hay không.